Tags

, , ,

Ngày 12/11/2007 Microsoft chính thức tung ra thị trường phiên bản hệ điều hành máy chủ Windows Server 2008, hệ điều hành này gồm 6 phiên bản chính:

– Windows Server 2008 Standard.

– Windows Server 2008 Enterprise.

– Windows Server 2008 DataCenter.

– Windows Web Server 2008.

– Windows HPC (High-performance computing) Server 2008

– Windows Server 2008 for Itanium-based Systems.

Việc lựa chọn phiên bản nào thì phụ thuộc vào yêu cầu của người sử dụng.

Windows Server 2008 Standard Edition: là lựa chọn tốt nhất cho doanh nghiệp nhỏ, không có nhu cầu mở rộng của phần cứng và không sử dụng tính năng clustering.

Windows Server 2008 Enterprise Edition: là lựa chọn tốt cho môi trường doanh nghiệp lớn, hỗ trợ đầy đủ các tính năng như: clustering, failover, virtualization và khả năng mở rộng phần cứng.

Windows Server 2008 DataCenter Edition (IA-64 DataCenter Edition): là tùy chọn cho các doanh nghiệp dùng lưu trữ dữ liệu lớn và sử dụng tính năng ảo hoá trên quy mô lớn.

Yêu cầu phần cứng cài đặt Windows Server 2008:

–               Processor: khuyến cáo tốc độ bộ vi xử lý 2GHz trở lên, tốc độ tối ưu là 3GHz trở lên

–               Memory RAM: khuyến cáo bộ nhớ RAM nên 1 GB trở lên. Bản Standard (32 bits) support tối đa 4GB; Bản Enterprise 32 bits support tối đa 32 GB RAM; bản 64 bits thì Standard support 32GB RAM; các phiên bản còn lại support 2TB RAM.

–               Ổ đĩa cứng (HDD): Không gian đĩa cứng tối thiểu để cài đặt HĐH Windows Server 2008 là 8 GB; khuyến cáo của Mircrosoft đối với bản Full thì không gian đĩa cứng còn trống 40 GB; không gian đĩa cứng tối ưu đối với bản Full là 80 GB.

Một số tính năng mới Windows Server 2008 so với Windows Server 2003:

  • Server Manager
  • Terminal Services Advanced Event Viewer
  • Server Core
  • Hỗ trợ Ipv6
  • Windows PowerShell
  • Internet Information Services 7.0
  • Máy Chủ ảo

1. Server Manager:

Windows Server 2008 có một giao diện quản lý Server Manager mới hoàn toàn, rất tiện lợi và hữu ích cho việc cấu hình, quản lý và kiểm tra máy chủ.

Tại giao diện Server Manager có thể cài đặt Server Roles (như DNS, DHCP, Active Directory) và Role Services (như Terminal Services Gateway và RRAS). Khi Server Roles và Role Services được cài đặt, giao diện quản lý MMC cho các dịch vụ đó sẽ được cài đặt trong Server Manager. Bạn không cần phải tạo một MMC tùy chỉnh cho chính mình.

2. Advanced Event Viewer

Trong Windows Server 2008, Event Viewer được cải tiến so với Windows Server 2003. Ngoài một số bản ghi sự kiện của Windows thông thường như: Application, Security và System… bạn hoàn toàn có khả năng xem các sự kiện cho tất cả các ứng dụng và dịch vụ đã được cài đặt trên máy tính. Thêm vào đó, bạn có thể tạo Custom Views của Event Logs, để từ đó tạo các mục của chính mình cho các bản ghi sự kiện dựa trên bộ lọc mà bạn chọn.

3. Server Core

Đối với Windows Server 2008 có thể được cài đặt theo một trong hai cách: Cài đặt đầy đủ hoặc Server Core.

Cài đặt Server Core: là cài đặt một số thành phần được yêu cầu để chạy hệ điều hành lõi. Không có các dịch vụ tùy chọn được cài đặt ở chế độ này, không có giao diện người dùng khác nào ngoài dòng lệnh, không có Windows Explorer shell. Tất cả các cấu hình phải được thực hiện cục bộ tại cửa sổ lệnh, hoặc điều khiển từ xa bằng cách sử dụng giao diện quản lý MMC hoặc Remote Server Administration Tools.

4. Hỗ trợ IPv6

Windows Server 2008 là phiên bản của Windows Server hỗ trợ IPv6 tốt hơn tất cả các phiên bản trước đây. Trong các phiên bản trước của Windows (trước Vista), sự hỗ trợ IPv6 được thực hiện song song với IPv4 và không có sự hỗ trợ tích hợp cho IPv6 có trong các dịch vụ cơ sở hạ tầng mạng như DNS và DHCP.

5. Windows PowerShell

Microsoft Windows PowerShell là một tiện ích dòng lệnh mới và kỹ thuật kịch bản theo nhiệm vụ, đây chính là ý tưởng phù hợp với sự tự động các tính năng có trong Windows Server 2008. Windows PowerShell sẽ cho phép các quản trị viên CNTT nâng cao toàn diện được sự kiểm soát và khả năng tự động trong thực hiện nhiệm vụ quản trị hệ thống từ đó giúp họ có được năng suất cao hơn trong công việc.

6. Internet Information Services 7.0

Một trong những công nghệ mới có trong Windows Server 2008 mà người ta quan tâm nhất đó chính là máy chủ web mới nhất của Microsoft, IIS 7.0 là một nền tảng nâng cao về bảo mật, dễ dàng trong quản lý giúp cho việc phát triển, cấu hình ứng dụng web và các dịch vụ trở nên tin cậy hơn. IIS 7.0 cũng là một hệ thống xương sống hỗ trợ và hợp nhất thế hệ kế tiếp của các công nghệ nền tảng Windows Web gồm: ASP.NET 2.0, Windows Communication Foundation Web services và Windows SharePoint Services.

7. Máy chủ ảo

Nền tảng ảo tạo khả năng linh động tuyệt vời nhất là với nền tảng động, tin cậy và ổn định của nó kết hợp với một tập các công cụ quản lý được tích hợp cho phép bạn quản lý được cả tài nguyên ảo và tài nguyên thực.

Windows Server 2008 R2

Tiếp theo sự thành công của Windows Server 2008, hệ điều hành máy chủ Windows Server 2008 R2 đã ra đời dựa trên phát triển của công nghệ Web và ảo hóa (virtualization), là nền tảng mạnh mẽ nhất, an toàn nhất và tin cậy nhất để từ đó phát triển, mang đến và quản lý những ứng dụng và trải nghiệm phong phú.

1. Hỗ trợ mạnh các hệ thống phần cứng mới

Windows Server 2008 R2 là phiên bản hệ điều hành máy chủ đầu tiên loại bỏ hoàn toàn cấu trúc 32 bit, hỗ trợ lên tới 256 bộ vi xử lý logic và có khả năng quản lý bộ nhớ tốt hơn các phiên bản trước.

2. Cải tiến quản lý năng lượng

Nhằm tiết kiệm chi phí qua việc giảm thiểu chi phí điện năng tiêu thụ, Windows Server 2008 R2 mang lại khả năng tinh chỉnh tốc độ và sự tiêu thụ điện năng của bộ xử lý để phù hợp với nhu cầu hiện tại, khả năng ảo hóa cũng cho phép bạn tối đa hóa hiệu năng sử dụng điện, cùng với đó là khả năng quản lý từ xa của Power Policy mang lại cách thức mạnh mẽ và thuận tiện để lưu lại thông tin về điện năng tiêu thụ…

3. Ảo hóa máy chủ và máy trạm

Ảo hóa là một phần chính của trung tâm dữ liệu ngày nay. Ảo hóa chiếm một dung lượng lớn trong cơ sở dữ liệu của hệ thống hiện tại. Những hiệu quả trong hoạt động của ảo hóa giúp cho các doanh nghiệp giảm thiểu đáng kể sự quá tải và sự tiêu tốn điện năng.

4. Hyper-V

Windows Server 2008 R2 giới thiệu một phiên bản mới của Hyper-V mang lại sự cải tiến nâng cấp đối với ba phạm vi trọng tâm trong việc khởi tạo các trung tâm dữ liệu động bao gồm: Nâng cấp tính sẵn sàng và tăng cường sự quản lý các trung tâm dữ liệu ảo, đơn giản hóa việc triển khai các máy thực và ảo bằng sử dụng các file .vhd

5. Remote Desktop Services (trước đây gọi là Terminal Services)

Remote Desktop Services, trước đây được gọi là Terminal Services, là một trong những thành phần của Microsoft Windows (cả máy chủ và máy trạm) cho phép người dùng truy cập vào các ứng dụng và dữ liệu trên một máy tính từ xa qua mạng.

Remote Desktop là dịch vụ cung cấp cho người sử dụng và quản trị viên với cả các tính năng và tính linh hoạt cần xây dựng những kinh nghiệm truy cập mạnh mẽ nhất trong bất kỳ kịch bản triển khai.

Để mở rộng việc thiết lập điều khiển máy tính từ xa, Microsoft đã đầu tư vào cơ sở hạ tầng Desktop ảo, còn được gọi là VDI (Virtual Desktop Infrastructure). VDI là một cấu trúc phân phối máy tính tập trung, cho phép khách hàng có thể tập trung hóa sự lưu trữ vận hành và quản lý của một máy tính Windows vào trung tâm dữ liệu (data center).

6. Tăng cường hỗ trợ công việc bằng cách mở rộng

Tính năng Network Load Balancing (NLB – Cân bằng tải mạng) trong Windows Server 2008 R2 cho phép bạn kết hợp 2 hay nhiều máy tính vào một cluster. Bạn có thể dùng NLB để phân phối công việc cho các cluster node nhằm mục đích hỗ trợ một số lượng lớn hơn số người dùng đồng thời.

Văn Liệt – TT CNTT &TT

Advertisements